Tại Hội nghị Da liễu toàn quốc thường niên 2023 và Hội nghị Nghiên cứu Da liễu Việt Nam. Các chuyên gia đã chia sẻ về vấn đề “ngày càng gia tăng các bệnh lý về da liên quan đến dị ứng, miễn dịch”.
Giám đốc Bệnh viện Da liễu Trung ương PGS. TS Lê Hữu Doanh cho biết, nếu như trước đây chuyên ngành da liễu chủ yếu tập trung vào bệnh phong, các bệnh lây qua đường tình dục hay các bệnh lý nhiễm trùng da thì hiện nay ngành còn quan tâm thêm các bệnh lý da liên quan đến dị ứng, miễn dịch.
“Đặc biệt bệnh viêm da cơ địa, mề đay mãn tính gia tăng trong thời gian gần đây. Các bệnh lý tự miễn như lupus, hay liên quan đến sợi thượng bì cũng có xu hướng gia tăng.”
Hệ vi sinh vật đường ruột bao gồm tất cả các loại vi khuẩn, virút, nấm, vi khuẩn cổ và protista (động vật nguyên sinh) khác nhau. Chúng có vai trò quan trọng đối với sức khỏe bao gồm: hỗ trợ tiêu hóa, sản xuất vitamin, sản xuất axit béo chuỗi ngắn và hỗ trợ và điều chỉnh hệ thống miễn dịch bảo vệ chống lại vi khuẩn gây bệnh. Nó liên quan trực tiếp đến tình trạng sức khỏe đặc biệt là các chứng viêm như viêm da, dị ứng, tự miễn của trẻ sau này.
Cũng giống như các mốc phát triển về não bộ, vận động… hệ vi sinh đường ruột của trẻ sơ sinh trải qua các giai đoạn phát triển riêng trong suốt 1000 ngày đầu đời và tiếp tục hoàn thiện khi trẻ 3-5 tuổi. Mặc dù có một quỹ đạo chung cho sự phát triển của hệ vi sinh đường ruột, nhưng hệ vi sinh vật đường ruột của mỗi em bé là độc nhất mang tính cá thể sinh học.
Nhưng hệ vi sinh vật có nguồn gốc như thế nào và ở đâu? Mẹ mang thai và trẻ nhỏ ăn chay có thực sự có cơ hội hỗ trợ hoặc cản trở sự phát triển của các bệnh viêm da, dị ứng hay tự miễn không?
Sự phát triển trước khi sinh
Trong nhiều thập kỷ, người ta tin rằng tử cung, cùng với nhau thai nuôi dưỡng thai nhi, là một môi trường vô trùng. Nhưng những khám phá khoa học gần đây cho thấy bằng chứng về các cộng đồng vi khuẩn tồn tại trong dây rốn, nước ối và nhau thai. Điều này cho thấy rằng quá trình xâm chiếm hệ vi sinh vật bắt đầu từ tử cung.
Trước khi thụ thai, tình trạng sức khỏe đường ruột của chính người mẹ có thể ảnh hưởng đến thai kỳ. Rối loạn hệ vi sinh vật, hoặc sự mất cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và có hại trong hệ vi sinh vật, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và bé.
Hệ vi sinh vật bị tổn hại trong thời kỳ mang thai có thể làm tăng nguy cơ mắc một số biến chứng nhất định, bao gồm:
- Tiền sản giật
- Sinh non
- Tiểu đường thai kỳ
- Các căn bệnh dị ứng
- Các chứng viêm
- Đồng thời ảnh hưởng đến sức khỏe của em bé.
Một số nghiên cứu cho rằng các sinh vật đường ruột của mẹ đã được xác định trong phân su (chất thải ban đầu có trong ruột của thai nhi), điều này ủng hộ quan điểm cho rằng hệ vi sinh vật nhau thai có thể là nơi trẻ sơ sinh lần đầu tiên tiếp xúc với thế giới vi khuẩn.
Người ta không chắc chắn chính xác những vi khuẩn này xâm nhập vào không gian trong tử cung như thế nào. Nhưng người ta tin rằng vi khuẩn được truyền từ mẹ bằng cách di chuyển từ ruột của mẹ, đi vào máu và đi đến nhau thai hoặc nước ối (mà em bé có thể nuốt). Vi khuẩn cũng có thể được truyền từ mẹ bằng cách di chuyển từ âm đạo của mẹ đến tử cung.
Chế độ ăn uống kém lành mạnh, hút thuốc, béo phì và sử dụng kháng sinh trước và trong thời kỳ mang thai, hay các căn bệnh dị ứng, các chứng viêm của mẹ đều có thể ảnh hưởng đến thành phần và sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột ở trẻ sơ sinh.
May mắn thay, có nhiều cơ hội để giúp cải thiện sức khỏe đường ruột và hỗ trợ sự phát triển lành mạnh của hệ vi sinh vật. Chế độ ăn thuần chay khoa học, cân bằng dinh dưỡng, tập thể dục thường xuyên, kiểm soát căng thẳng trong 1 thời gian nhất định trước khi mang thai giúp mẹ có thể thiết lập một hệ sinh vật mới lành mạnh hơn. Chương trình “Dinh dưỡng phục hồi khí huyết thuần chay” sẽ giúp bạn cải thiện hệ vi sinh vật lành mạnh trước và trong thai kỳ.

Trong thời kỳ mang thai, hầu hết các hệ thống cơ quan đều thay đổi để thúc đẩy thai kỳ khỏe mạnh và chuẩn bị cho việc sinh nở. Điều này bao gồm cả hệ vi sinh vật của chính người mẹ, hệ vi sinh vật này thay đổi trong suốt thai kỳ để tạo ra sự pha trộn tối ưu hơn cho đứa trẻ của họ.
Trong tam cá nguyệt đầu tiên, có sự thay đổi trong thành phần của hệ vi khuẩn đường ruột; các vi khuẩn trong thời gian này chủ yếu là Firmicutes, Clostridiales và có sự giảm số lượng của Bacteroidetes.
Từ tam cá nguyệt đầu tiên đến tam cá nguyệt thứ ba, Proteobacteria, Bifidobacteria và vi khuẩn sản xuất axit lactic tăng lên. Những thay đổi này, kết hợp với những thay đổi về hormone chuyển hóa, tạo ra một tình huống có thể gây ra tăng cân và ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất để cung cấp năng lượng cho thai nhi.
Sự phát triển qua hình thức sinh nở
Trẻ sơ sinh trải qua quá trình xâm chiếm nhanh chóng của vi khuẩn ngay từ khi sinh đến từ cả mẹ và môi trường xung quanh.
Cách em bé được sinh ra đóng vai trò trong việc thiết lập hệ vi khuẩn đường ruột của trẻ sơ sinh. Với việc sinh thường đủ tháng, trẻ sơ sinh sẽ ăn hệ vi khuẩn đường ruột của mẹ (âm đạo và đại tràng) khi em bé đi qua ống sinh. Việc tiếp xúc với các loại vi khuẩn khác nhau này có thể cho phép có nhiều loại vi khuẩn đa dạng hơn, có thể là chìa khóa để tạo ra một hệ thống khỏe mạnh hơn và chống lại bệnh tật tốt hơn.
Ngược lại, sinh mổ có thể dẫn đến khuynh hướng mắc hoặc gia tăng một số vấn đề sức khỏe nhất định, chẳng hạn như béo phì, tiểu đường loại 1 hoặc dị ứng. Nguyên nhân là do sinh mổ không cho em bé cơ hội ăn phải hệ vi khuẩn đường ruột của mẹ từ âm đạo hoặc đại tràng. Điều này khiến một số mẹ phải sinh mổ tìm hiểu về việc gieo hạt âm đạo (lau miệng trẻ sơ sinh bằng dịch âm đạo), nhưng mức độ hiệu quả của biện pháp này vẫn chưa được xác định.
Khi em bé ra khỏi bụng mẹ, em bé sẽ tiếp xúc nhiều hơn với vi khuẩn, lần đầu tiên tiếp xúc da với mẹ và môi trường xung quanh (phòng sinh, nhà, v.v.), các quy trình chăm sóc và tiếp xúc với những người khác như bác sĩ, y tá, hộ lý… hay người đỡ đầu. Nhiều bậc cha mẹ mới có thể lo lắng về việc con mình tiếp xúc với vi khuẩn vào thời điểm này, đặc biệt là khi hệ thống miễn dịch vẫn đang phát triển trong 2–3 tuần đầu tiên của cuộc đời.
Nhìn chung, việc tiếp xúc sớm với vi khuẩn và một số chất gây dị ứng trong năm đầu tiên có thể có tác động tích cực đến phản ứng miễn dịch của trẻ. Ví dụ, trẻ sơ sinh tiếp xúc với gàu và nhiều loại vi khuẩn trong gia đình dường như ít có khả năng bị dị ứng và hen suyễn. Nhưng thời điểm tiếp xúc ban đầu là yếu tố then chốt. Trong các nghiên cứu này, không thấy tác dụng bảo vệ nào của việc tiếp xúc nếu lần tiếp xúc đầu tiên xảy ra sau một tuổi.
Thông thường, việc tiếp xúc này sẽ diễn ra tự nhiên, vì vậy không cần thiết phải cố ý để trẻ tiếp xúc với vi khuẩn. Khi trẻ được khoảng hai tháng tuổi, cha mẹ có thể bớt lo lắng hơn về việc bảo vệ trẻ khỏi việc tiếp xúc với những người khỏe mạnh.
Sự phát triển ở giai đoạn sau sinh
Việc cho trẻ bú bắt đầu một giai đoạn quan trọng khác trong quá trình phát triển của hệ vi khuẩn. Sữa mẹ chứa vi khuẩn, hormone và kháng thể có đặc tính đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và phát triển hệ miễn dịch của trẻ. Vi khuẩn có lợi cũng tồn tại trên da vú của mẹ. Vì những lý do này, trong độ tuổi từ 0 đến 18 tháng hoặc lâu hơn (nếu có thể) việc cho con bú trực tiếp một phần (hoặc tốt hơn hoàn toàn) được chứng minh là có mối quan hệ đáng kể với sự khác biệt trong hệ vi khuẩn đường ruột của trẻ so với trẻ bú bình.
Sự chuyển đổi quan trọng tiếp theo xảy ra trong giai đoạn cai sữa khi trẻ vẫn tiếp tục bú mẹ, nhưng cũng được cho ăn thức ăn đặc. Việc cho trẻ ăn thức ăn mới mang lại hệ vi khuẩn đường ruột phức tạp và đa dạng hơn. Thực phẩm nguyên chất giàu chất xơ và protein có thể tạo ra môi trường thúc đẩy các vi khuẩn cụ thể hình thành trong ruột, từ đó tạo ra sự đa dạng có lợi. Một nghiên cứu cho thấy yến mạch, giàu chất xơ có thể được vi khuẩn đường ruột sử dụng, là một trong những thực phẩm tốt nhất để thúc đẩy sự đa dạng của hệ vi khuẩn trong thời gian này.
Thời điểm cho trẻ ăn thức ăn cũng rất quan trọng. Nếu tạo ra quá nhiều sự đa dạng quá sớm, điều đó có thể gây ra vấn đề. Vì lý do này, cha mẹ không nên cho trẻ ăn thức ăn đặc trước sáu tháng tuổi. Đây chính là cột mốc cuối cùng của 1000 ngày đầu đời, bạn có thể tham khảo khóa học “ăn dặm thuần chay” dinh dưỡng cân bằng, thực hành tinh gọn để có thể dễ dàng nuôi con thuần chay khỏe mạnh.

Sự phát triển tiếp theo diễn ra khi trẻ ngừng bú mẹ hoàn toàn. Điều này giúp đẩy nhanh quá trình trưởng thành của hệ vi sinh vật, từ đó dẫn đến hệ vi sinh vật ổn định hơn. Sau khi cai sữa, hệ vi sinh đường ruột của trẻ sẽ tiếp tục thay đổi trong suốt thời thơ ấu trước khi ổn định vào khoảng 3-5 tuổi.
Đây là thời điểm hệ vi sinh vật đường ruột bắt đầu giống với hệ vi sinh vật đường ruột của người lớn. Trong thời gian này sau khi trẻ ngừng bú mẹ, việc cho trẻ ăn 1 chế độ ăn đa dạng và cân bằng có thể có lợi cho việc thúc đẩy sự đa dạng của hệ vi khuẩn. Và chế độ ăn thuần chay thực sự là chế độ ăn cung cấp nhiều chất xơ và thực phẩm lành mạnh – bữa ăn khoái khẩu của vi sinh vật có lợi. Sự gia tăng của vi sinh vật có lợi làm mất đi cơ hội xâm chiếm của vi sinh vật có hại, điều này vô cùng hữu ích cho việc cải thiện tình trạng viêm da, dị ứng ở trẻ.
Tất nhiên hãy thận trọng với những thực phẩm mà trẻ nhạy cảm hoặc bị dị ứng. Cuối cùng, tính cá thể sinh học sẽ quyết định loại thực phẩm nào có hiệu quả đối với trẻ. Điều này đòi hỏi mẹ phải quan sát và nương theo đứa con của mình.
Cần lưu ý rằng thức ăn không phải là yếu tố duy nhất hình thành nên hệ vi sinh đường ruột của bé. Từ khi cai sữa đến khi trưởng thành hoàn toàn, các yếu tố môi trường khác cũng có tác động bao gồm:
- Tiếp xúc gần với người chăm sóc, bạn bè tại trường mầm non.
- Vị trí địa lý (thành thị hay nông thôn)
- Chất lượng không khí
- Tiếp xúc với động vật nuôi
- Yếu tố thiên nhiên (đất, nước tự nhiên, cây cỏ)
Tài liệu tham khảo
Kiến thức về sức khỏe đường ruột tại viện dinh dưỡng tích hợp hoa kỳ IIN
và https://www.pnas.org, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov, https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/,https://www.sciencedirect.com/,https://www.cell.com/
https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.1000081107,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/20668239/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25974306/,https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1931312815001626,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33794185/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/29118049/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30001516/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/27126036/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/28673401/https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/27387886/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/21270894/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30356187/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33177184/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/31958431/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/28492938/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/22836031/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33525778/,https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/29242832/,https://www.cell.com/cell/pdf/S0092-8674(21)00660-7.pdf…

